This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Năm, 3 tháng 11, 2016

Phòng và trị bệnh cho cá nước ngọt hiệu quả

Nuôi cá nước ngọt thường gặp phải 1 số bệnh rất khó phát hiện và xử lý, tác động tới hiệu quả kinh tế. ví như điều hành nguồn nước và thức ăn ko tốt rất dễ phát sinh dịch bệnh trên cá dẫn tới dịch bệnh chết hàng loạt. Sau đây xin giới thiệu cách thức phòng và trị 1 số mẫu bệnh trên cá nước ngọt
một. Bệnh là gì?
“Là giai đoạn suy yếu nhất mực của thân thể, trình bày bằng cách triệu chứng gây ảnh hư­ởng cục bộ hoặc phần đông cơ thể”
2. duyên cớ gây bệnh:
Cá nuôi trong ao bị bệnh là do sự tác động của 3 yếu tố sau:
- Môi tr­ường nước ao nuôi xấu (môi trường sống)
- Cá bị yếu (vật chủ yếu)
- Trong ao mang nhiều mầm bệnh (ký chủ trung gian).
3. giai đoạn lây bệnh :
- Cá bệnh bài tiết mầm bệnh ra khỏi thân thể và truyền thẳng sang cá khoẻ.
- Cá bệnh bài tiết mầm bệnh ra ngoại cảnh rồi mới vào cá khoẻ.
- trong khoảng cá ba má sang cá con, việc lây nhiễm diễn ra liên tiếp và đồng loạt sẽ nảy sinh dịch.
4. Phòng bệnh hơn chữa bệnh:
Do cá sống trong n­ước nên khó Nhìn vào theo dõi để chẩn đoán xác định bệnh. lúc bị bệnh cá bỏ ăn, nếu trộn thuốc vào thức ăn để chữa bệnh th­ường không với hiệu quả. do vậy chữa bệnh cho cá thư­ờng rất cạnh tranh và phức tạp. Môi tr­ường n­ước lại là môi tr­ường dễ lây lan bệnh cho cá. Phòng bệnh là chính, chữa bệnh là phụ.
5. các biện pháp phòng bệnh tổng hợp:
khiến cho sạch môi tr­ường n­ước và ao nuôi:
- Nguồn nư­ớc lấy vào ao phải sạch.
- Ao quang đãng, quanh đó ao không với cây cối rậm rạp.

Mô hình nuôi thủy sản nhỏ

Thủy sản với thể chia làm cho ba loại: các loài ăn chất thải ở đáy; loài ăn sinh vật nổi, loài ăn cỏ, rong ở tầng mặt; tầng giữa là các loài săn bắt mồi. 
những loài vẹm, ngao, trai nước ngọt sống trong bùn, ăn chất thải và có thể lọc đến 700-800 lít nước/ngày và tiết ra một dung dịch những chất hòa tan (thường là photpho) vào bùn ao. những loài giáp xác (tôm, cua) ăn sinh vật nổi ở đáy ao.
* các loài cá ăn ở tầng đáy ao:
- Trắm đen ăn ốc, hến và các loài thân mềm khác.
- cá gáy ăn những động vật ở đáy ao như giun, ấu trùng.
- Cá trôi ăn đa số mùn, bã hữu cơ, tảo, các loài giáp xác.
- Cá rô phi ăn mùn bã hữu cơ và những chiếc tảo ở đáy ao. bên cạnh đó chúng còn ăn những chất thối rữa sở hữu xuất xứ động vật và thực vật.
* các loài cá ăn ở tầng giữa: trắm cỏ, cá vên. Chúng ăn chính yếu những loài cỏ dại, thực vật khác nhau.

* các loài cá ăn nổi ở bề mặt ao: mè hoa, mè trắng và cá chày. Chúng ăn những cái thủy sinh phù du nổi trong nước.
Thủy sản với thể chia làm cho ba loại: các loài ăn chất thải ở đáy; loài ăn sinh vật nổi, loài ăn cỏ, rong ở tầng mặt; tầng giữa là các loài săn bắt mồi.
những loài vẹm, ngao, trai nước ngọt sống trong bùn, ăn chất thải và có thể lọc đến 700-800 lít nước/ngày và tiết ra một dung dịch những chất hòa tan (thường là photpho) vào bùn ao. những loài giáp xác (tôm, cua) ăn sinh vật nổi ở đáy ao.
* các loài cá ăn ở tầng đáy ao:
- Trắm đen ăn ốc, hến và các loài thân mềm khác.
- cá gáy ăn những động vật ở đáy ao như giun, ấu trùng.
- Cá trôi ăn đa số mùn, bã hữu cơ, tảo, các loài giáp xác.
- Cá rô phi ăn mùn bã hữu cơ và những chiếc tảo ở đáy ao. bên cạnh đó chúng còn ăn những chất thối rữa sở hữu xuất xứ động vật và thực vật.
* các loài cá ăn ở tầng giữa: trắm cỏ, cá vên. Chúng ăn chính yếu những loài cỏ dại, thực vật khác nhau.
* các loài cá ăn nổi ở bề mặt ao: mè hoa, mè trắng và cá chày. Chúng ăn những cái thủy sinh phù du nổi trong nước.

Định hướng nuôi thủy sản năm 2020

Định hướng đến năm 2020, thủy sản tiếp tục là ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm trên 7%; Giá trị xuất khẩu dự kiến đạt 10,0 - 10,5 tỉ đô la; xây dựng được các thương hiệu thủy sản lớn có uy tín, giữ vững và phát triển thị trường truyền thống, từng bước khai thác và xâm nhập vào các thị trường mới.
Mặc dù đã đạt nhiều thành tựu đáng kể và có định hướng chiến lược rõ ràng, tuy nhiên, sự phát triển của ngành thủy sản vẫn chưa thật sự toàn diện và bền vững, vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do chủ yếu vẫn gia tăng về lượng, còn sự chuyển biến về chất còn rất hạn chế.
Ông Ngô Tiến Chương chia sẻ: “Chúng ta cần tập trung đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm thay vì phát triển ồ ạt mà thiếu kiểm soát hay thiếu quy hoạch tốt, nhằm gia tăng giá trị của sản phẩm thay vì gia tăng số lượng. Áp dụng các tiêu chuẩn bền vững một cách có hệ thống để tạo lòng tin của người tiêu dùng và sản xuất có trách nhiệm với môi trường và xã hội. Đồng thời, cũng cần có chiến lược thị trường tốt để đảm bảo tính cạnh tranh cao đối với các sản phẩm thủy sản “Made in Vietnam”, chẳng hạn như cá tra Việt Nam”.

Còn theo ông Nguyễn Thành Tâm – Giảng viên Trường Đại học Nông Lâm TPHCM: “Hiện nay, giá trị xuất khẩu của các mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường thế giới chưa cao. Thời gian qua, ngành thủy sản nước ta chỉ mới gia tăng về lượng mà chưa chú trọng đến chất. Thủy sản Việt Nam cần phải nâng cao chất lượng, nâng cao giá trị của sản phẩm xuất khẩu, để từ đó nâng cao lợi nhuận”.

Bước đầu thực hành nuôi tôm theo công nghệ semi biofloc

Bón phân, khoáng, vi khuẩn có lợi để kích thích các loài tảo mang lợi vững mạnh, ổn định ( tảo khuê ) trong thời kỳ đầu của tôm:
- Cải tạo ao: Khâu cải tạo ao phải đảm bảo đề xuất công nghệ, phơi khô ao 5 – 7 ngày xoá sổ triệt để những virus, vi khuẩn, mầm bệnh của vụ trước còn tồn lưu, lấy nước qua túi lọc, 3 – 4 ngày sau diệt tạp bằng Saponin ( 10 - 20 kg/1.000 m3 tuỳ nhà sản xuất và độ mặn ao nuôi ), 2 - 3 ngày sau diệt khuẩn bằng những sản phẩm mang thành phần chính Iodine, liều lượng theo hướng dẫn ghi trên bao phân bì, hai ngày sau bón vôi Dolomite ( 10 - 20 kg/1.000 m3 tuỳ điều kiện pH ao nuôi ), 1 - 2 ngày sau kiểm tra các chỉ tiêu môi trường: pH từ 7,5 trở lên, độ kiềm trên 80, sau chậm tiến độ bón phân sinh vật học BIO COMPOST ( sản phẩm chế biến trong khoảng phân giun đất Quế ), liều lượng: 5 – 10 kg/1.000 m3 ( tùy điều kiện dinh dưỡng của ao nuôi ) để gây màu nước, ổn định tảo, bù đắp, bổ sung những vi sinh vật sở hữu lợi cho môi trường ao nuôi.
- Xuống giống: Giống được tải bằng xe lạnh về đến ao nuôi, chuyển những bao tôm xuống, ngâm trong ao để thăng bằng nhiệt độ ( nước trong bao có nước trong ao nuôi ), đối có tôm Chân trắng thời gian ngâm ngắn hơn so có tôm Sú ( khoảng 5 - 10 phút ) rồi mở bao để tôm giống bơi ra trong khoảng từ, ko để lâu vì lúc hết lạnh tôm sẽ cắn nhau dẫn tới hao hụt. Thả tôm vào sáng sớm hay chiều mát, giảm thiểu nhiệt độ quá cao gây sốc tôm.
- Mật độ thả:Tùy điều kiện ao nuôi, đồ vật, trình độ công nghệ, hình thức nuôi, đối mang các ao nuôi thâm canh kết hợp giải pháp thu tỉa, mật độ thả lên đến trên 300 con/m2.
 Bổ sung vào ao nuôi lượng Carbohydrat phù hợp, tỷ lệ: C:N > 12,5:1, kích thích Biofloc vững mạnh, làm sạch môi trường, ngăn chặn sự xâm nhập của các vi khuẩn gây bệnh tôm.

khi tôm được một tháng tuổi cho tôm ăn: “ Thức ăn + E.M trùn ”, liều lượng: 20 - 30 ml E.M Trùn/kg thức ăn, trộn áo bằng chuối xay bổ sung thêm lượng Carbohydrat, liều lượng 50 g/kg thức ăn ( chuối đã lột vỏ ), ngày cho ăn 1 – hai lần vào bữa ăn chính.

Một số yếu tố hưởng đến thủy sản

1. Độ muối (độ mặn)

Độ muối phù hợp cho tôm sú và tôm thẻ chân trắng là 5 – 35 (‰ - phần ngàn). tuy nhiên, hiện nay nuôi tôm thẻ chân trắng được khuyến cáo ở độ mặn 5% để giảm nguy cơ bệnh gan tụy.
Đo độ muối bằng bằng tỉ trọng kế, khúc xạ kế hay dẫn điện kế - độ muối. Dẫn điện kế là máy chuẩn xác nhất với sai số 5%; kế chậm tiến độ là khúc xạ kế (10 -15 %); còn tỉ trọng kế, nhất là tỉ trọng kế không qua kiểm định, cho sai số rất to, có lúc 30%. cố nhiên, giá cả cũng tỉ lệ thuận mang độ xác thực.
Để tỉ trọng kế cũng như máy đo cho giá trị chuẩn xác thì cần phải hiệu chỉnh. Chỉ cần hiệu chỉnh tỉ trọng kế 1 lần độc nhất. sở hữu 2 máy còn lại thì nên hiệu chỉnh máy 1 tháng 1 lần có các dung dịch chuẩn
2. pH
pH thích hợp cho số đông động vật thủy sinh là 6,5-9,0. pH tối ưu là cho tôm là 7,5 – 8,5, cho cá basa là 7 – 8,5. tuy nhiên, pH không được ngả nghiêng quá 0,5 công ty trong ngày để tránh sốc cho tôm cá.
sở hữu thể đo pH sử dụng máy đo, bút đo hay ENVIKIT pH bằng cách thức so màu. thế mạnh của sử dụng bút và máy đo là những bước đo rất nhỏ, tăng từng 0,1 độ pH, tỉ dụ 7,0 - 7,1 - 7,2. tuy nhiên để có được giá trị đúng thì phải thường hiệu chỉnh một tuần 1 lần. Chất lượng của bút và máy rất thay đổi. các máy và đặc trưng các bút pH phải chăng tiền rất nhanh hỏng phần đầu dò, dù mang sử dụng hay ko, nên ko còn hiệu chỉnh được dù máy vẫn cho ra số, nhưng là pH sai.
ENVIKIT pH so màu mang thế mạnh là dễ, tốt, không cần h
3. Ôxy hòa tan, BOD và COD
Ôxy hòa tan là dưỡng khí cho động vật dưới nước. Nước nuôi tôm phải đảm bảo ôxy hòa tan > 3,5 mg/l, nhưng tối ưu là > 5 mg/l.

Đo ôxy bằng phương pháp nhỏ đếm giọt nhờ ENVIKIT DO. Ưu điểm: giá thành rẻ, chính xác, không phải hiệu chỉnh, nhưng đòi hỏi thao tác chu đáo. thích hợp cho trại nhỏ có ít đầm tôm.

Lịch nuôi hải sản theo thời vụ

- Thả nuôi cua ở vụ phụ: nếu như độ mặn đảm bảo, thả giống trong khoảng ngày 25/12/2015 đến ngày 10/01/2016, thu hoạch từ ngày 15/3-31/3/2016 để nâng cao thêm vụ nuôi và sản lượng, sau chậm tiến độ cải tạo để nuôi tôm, cua, cá vụ chính.
- Ương cua, tôm giống: Ương từ ngày 01/3/2016 (23 tháng Giêng Âm lịch) trở đi. Ương trong những ao nuôi sở hữu diện tích dưới 1.000 m2 để dễ quản lý và xử lý dịch bệnh 
- Nuôi chuyên cá nước lợ, cua chính vụ: Thả giống trong khoảng ngày 01/3/2016 (23 tháng Giêng Âm lịch) trở đi, thu hoạch trước ngày 31/8/2016 (29/7 Âm lịch).
- Riêng đối có thả nuôi tôm sú:
+ Đối có các phố thường mang độ mặn sớm (Quảng Công, Quảng An, Quảng Thành, Quảng Phước): Thả giống từ ngày 10/3/2016 (02/2 Âm lịch) trở đi, nhắc cả thả giống P15, thu hoạch trước ngày 31/8/2016 (29/7 Âm lịch).
+ Đối với những thị trấn thường sở hữu độ mặn muộn hơn (thị trấn Sịa, Quảng Ngạn, Quảng Lợi): Thả giống từ ngày 01/4/2016 (24/2 Âm lịch) trở đi đối mang thị trấn Quảng Ngạn và xã Sịa; thả giống trong khoảng ngày 05/4/2016 (28/2 Âm lịch) đối có phường Quảng Lợi; thu hoạch trước ngày 31/8/2016 (29/7 Âm lịch).
- Mật độ thả: Mật độ thả nuôi xen ghép: tôm sú 3-5 con/mhai (cỡ 3-5 cm); cá dìa 0,1-0,2 con/mhai (cỡ 3-5 cm); cá kình 0,5- một con/m2 (cỡ 2-3 cm); cá đối 0,1 con/mhai (cỡ 3-5 cm) ; cua 0,1- 0,2 con/mhai (cỡ 3-5 cm). Thả cá, cua sau thả tôm trong khoảng 15 ngày trở lên để đảm bảo an toàn, hạn chế khó khăn thức ăn của tôm, tạo điều kiện cho tôm với điều kiện vững mạnh phải chăng hơn.
Đối với hình thức nuôi lồng, nuôi ao hồ, bể cao có thể vượt lũ: mang thể nuôi vòng vo năm.
Đối với những ao hồ khác: Thả giống trong khoảng ngày 15/12/2015 trở đi, thu hoạch trước 31/8/2015 (29/7 Âm lịch) để hạn chế lũ.
ngoài ra, tuỳ theo diễn biến của tình hình thời tiết, nhất là điều kiện nhiệt độ, môi trường nước để chọn thời điểm thả giống cho phù hợp, rẻ nhất là thả giống lúc nhiệt độ nước trong khoảng 26- 300C.


Thử nghiệm phương pháp chữa bệnh thủy sản

Anh Xuân kể, kho khăn nhất là công đoạn anh quyết định đem bài thuốc thí điểm trên ao tôm vì nếu như ko may tôm chết sạch thì Các bạn chỉ còn nước phải đi ở đợ (ngôi nhà đang ở anh đã cầm cho nhà băng để lấy tiền nuôi tôm). không những thế, anh nghĩ khiến cho công nghệ phải dám hy sinh. Anh cổ vũ vợ con mình chuẩn bị ý thức chịu cất nếu thí điểm của anh ko thành công.
trước tiên anh sử dụng 100gr tỏi giã nhỏ trộn sở hữu dầu thực vật (chất bôi trơn) rồi đem nấu chín, sau chậm triển khai trộn vào thức ăn cho tôm. Mỗi càng ngày càng lần anh ra ao tôm đang bị bệnh, khoanh ra một diện tích nhỏ để thí điểm. Sau vài ngày anh thấy số tôm được thể nghiệm lành bệnh, khỏe mạnh trở lại
Mùa tôm sau, trong khoảng 100gr anh Xuân nâng lên 1 kg tỏi và một lít dầu thực vật. Số thức ăn này anh cho 3 vạn tôm (trên diện tích 5ha hồ nuôi), ăn trong vòng 5 ngày. Tính ra mỗi sào nuôi tôm chỉ mất 10.000 đồng, thấp hơn hồ hết so sở hữu thức ăn và thuốc chữa bệnh dịch tôm bán ngoài thị trường. Anh Xuân cho biết, nên trộn tỏi vào thức ăn cho tôm ăn một lần vào buổi tối vì đây là thời kì tôm ăn mạnh nhất. Sau 5 ngày, tôm đang bệnh dần dần chuyển sang khỏe mạnh và chóng to. bí quyết 5 tới 10 ngày sau, cho tôm ăn thêm một chu kỳ 5 ngày thuốc tỏi nữa để củng cố kháng thể trong thân thể cho tôm.
Sau rộng rãi lần thể nghiệm thành công, trong khoảng tháng 1-2005, anh Xuân đem thực nghiệm đại trà trên ao tôm nhà mình, kết quả thật khả quan. liên tục trong 2 mùa tôm của năm 2005, khi mà ao của ngưòi khác tôm bị dịch bệnh chết sạch, riêng 5ha tôm của anh không mang con nào chết vì dịch bệnh.
Tin anh Xuân tậu ra bài thuốc chữa bệnh tôm lan nhanh. Người nuôi tôm khắp nơi mua về học hỏi. Anh Xuân xuề xòa: "Tôi không giấu diếm gì bà con, ai tới tôi đều nồng hậu chỉ bảo". Chị Nguyễn Thị Thu Hồng, kỹ sư thủy sản - Giám đốc trọng tâm khuyến nông - Khuyến ngư, Sở Thủy sản thức giấc Thừa Thiên - Huế, cho rằng đây là một thông tin quyến rũ, ý tưởng của anh Xuân rất đáng khích lệ. Vấn đề còn lại là những nhà khoa học nên nghiên cứu sâu hơn về phát hiện độc đáo này khiến minh bạch thêm cơ sở khoa học của vấn đề.


Kết quả nuôi ghép thủy sản đạt được


- giai đoạn bổ sung chế phẩm sinh vật học E.M (EM5 và EM Tỏi) sở hữu cất những vi sinh vật sở hữu lợi và hoạt tính sinh vật học vào môi trường ao nuôi thí nghiệm đã góp phần nâng cao hiệu quả phân hủy những chất thải nền đáy ao nuôi, hồ thí điểm có màu xanh nõn chuối thấp hơn màu nước vàng và đục ở hồ đối chứng. Trong giai đoạn nuôi, một lượng thức ăn ko được ba ba và ếch Thái Lan dùng chìm ở đáy hồ sẽ được cá rô phi tái dùng, sự bổ sung E.M vào thức ăn giúp thời kỳ tiêu hóa thức ăn rẻ hơn do các chủng vi sinh vật tạo ra những enzyme làm cho tăng hiệu quả tiêu dùng thức ăn. Qua Phân tích những mục tiêu về môi trường thủy sản đối có ao nuôi như: pH, COD, BOD5, NH3, H2S,... tại các hộ dân cho thấy các mục tiêu chất lượng đều đạt buộc phải về môi trường theo Thông tư số 02/2006/TT-BTS ngày 20/3/2006 của Bộ Thủy sản (Bộ Nông nghiệp và tăng trưởng Nông thôn) trong khi các hồ đối chứng đều cao, sở hữu tiêu chí BOD5 vượt quy định nhà nước tới một,4-1,8 lần.
- Kết quả nuôi ếch Thái Lan sau 3 tháng tại cả 3 hộ đều phát triển rẻ, tỷ lệ sống đạt 86%-91%, trọng lượng trung bình đạt 200-230g/con, sản lượng đạt 556kg, giá tiền từ 55.000đ-70.000đ/kg, cho hiệu quả về kinh tế cao. Lưu ý, không nên nuôi ếch vào mùa mưa, lạnh và thường xuyên phân đàn theo kích cỡ để giảm thiểu cắn nhau.
- Về nuôi ba ba trong ao nuôi ghép sau 12 tháng tại cả 3 hộ đều lớn mạnh thấp, tỷ lệ sống trong ao nuôi đạt 91,5%-95%, trọng lượng nhàng nhàng đạt 805-845g/con, sản lượng thu hoạch đạt 358kg. Số lượng ba ba qua công đoạn nuôi xen ghép cho tỷ lệ hao hụt tốt (dưới 10%), điều ngừng thi côngĐây cho thấy mô phỏng nuôi xen ghép theo hướng sinh thái mang hiệu quả thiết thực. mang kết quả nâng cao trọng tại 3 hồ nuôi ghép như trên cho thấy ba ba nâng cao trọng hơi tốt.

- Về nuôi cá rô phi trong ao nuôi ghép cho thấy tỷ lệ hao hụt không đáng đề cập, cá vững mạnh rẻ không sở hữu hiện tượng nổi đầu, đặc thù là trọng lượng cá trong hồ nuôi ghép (240-310g/con) cao hơn cá nuôi ở hồ đối chứng (230-260g/con), sản lượng đạt 150kg.

Các loại bệnh thường gặp khi nuôi cá

Bệnh thường gặp trên một số loài cá nuôi & giải pháp phòng trị
Nuôi cá ao hồ và lồng bè là nghề truyền thống đã sở hữu trong khoảng lâu ở nước ta. Do lợi nhuận từ nghề nuôi cá đem lại tương đối cao nên trong các năm cách đây không lâu số lượng ao, bè nuôi nâng cao lên 1 cách thức đáng nhắc và trở nên nguồn thu nhập chính của nhiều hộ gia đình. các loài cá nuôi nước ngọt như: cá tra, cá basa, cá rô phi, cá điều hồng (cá rô phi đỏ), cá lóc, hoặc những loài cá nuôi nước mặn, lợ như: cá mú, cá chẽm... đã trở nên đối tượng nuôi chính. ngoài ra, do phát triển một bí quyết tự phát nên bệnh vẫn thường bột phát trong giai đoạn nuôi, sản lượng thu được ko cao. 1 số bệnh nhiễm khuẩn thường gặp trên những đối tượng này như: lở loét, đốm đỏ, đốm trắng, hoại tử và xuất huyết những vây,... hoặc một số bệnh ký sinh trùng như: bệnh trùng bánh xe (trùng mặt trời), sán lá, giun tròn, đỉa cá, rận cá,... đã tác động không nhỏ tới sản lượng và năng suất thu hoạch.
I. Bệnh nhiễm khuẩn
1. Bệnh trên các loài cá nuôi nước ngọt.
Vi khuẩn là 1 trong những tác nhân gây bệnh khá quan trọng, là trở ngại cốt yếu kìm hãm vững mạnh và mở mang sản xuâấ trong nuôi trồng thuỷ sản. phần lớn các vi khuẩn gây bệnh là một phân của hệ vi sinh vật thông thường trong môi trường (nước biển, ao, hồ, sông rạch) và đại quát những vi khuẩn này được xem là tác nhận gây bệnh thứ cấp hoặc tác nhân gây bệnh thời cơ. ngoài ra cũng mang một số ít những loài vi khuẩn là tác nhân phát khởi, bệnh xảy ra thường là do biến động những nguyên tố môi trường hoặc do stress nhưng cũng có thể gây chết cao.
Tỷ lệ chết do nhiễm khuẩn mang thể lên đến 100%, bệnh sở hữu thể xảy ra dưới dạng mãn tính, bán cấp tính và cấp tính.
đông đảo những vi khuẩn gây bệnh trên thủy sản đều mang những triệu chứng giống nhau, đặc thù là trên cá.
1.1 Bệnh nhiễm khuẩn huyết do Aeromonas.
Tác nhân gây bệnh:
lực lượng vi khuẩn gây bệnh chủ yếu thuộc giống Aeromonas:
+ A. hydrophila.
+ A. caviae.
+ A. sobria.

Vi khuẩn hiện diện thông thường trong nước, đặc thù khi trong nước mang rộng rãi chất hữu cơ. Nó cũng mang thể không gây bệnh khi khu trú trong ruột cá.

Đời sống và sinh sản của tôm càng xanh


Tôm càng xanh mang trọng lượng hơi to, con đực sở hữu thể đạt đến 450g/con. Thân khá tròn, con trưởng thành sở hữu màu xanh dương đậm. Chuỷ phát triển nhọn, 1/2 chuỷ ngoài cong lên, trên mắt chuỷ mang 11-15 răng, 3-4 răng sau hốc mắt, mắt dưới thường 12-15 răng. Chiều dài chuỷ của tôm chiếc khi trưởng thành thường bằng hoặc ngắn hơn vỏ đầu ngực, còn chuỷ tôm đực dài hơn chiều dài vỏ đầu ngực.
Chân ngực thứ 2 luôn luôn phát triển hơn những chân khác, nhất là ở tôm đực trưởng thành, đôi chân ngực thứ 2 có hình trạng và kích thước giống nhau.
khi chiều dài bình quân 8-14cm, trọng lượng thân thể từ 10-20g, tôm càng xanh với sự tăng trưởng tương đương giữa con đực và con mẫu. khi chiều dài vượt quá 14cm, con đực thường vững mạnh tốc độ hơn con mẫu.
Trong công đoạn nuôi, thả nuôi trực tiếp tôm bột (postlarvea) sau 7 tháng nuôi, cá thể đực lớn nhất đạt 110g, cá thể cái to nhất chỉ đạt 50g.
Vòng đời của tôm càng xanh với 5 công đoạn chủ yếu:
Trứng – ấu trùng – Tôm bột (postlarvae) – Tôm giống (juvenile) – Tôm trưởng thành (adult).
Mỗi một giai đoạn, đòi hỏi môi trường và điều kiện sống khác nhau.
lúc con mẫu và con đực trưởng thành, ở con mẫu với trứng chín thì xảy ra hiện tượng lột xác, con đực và con dòng tiến hành giao vỹ rồi ấp trứng. khi tôm đang ấp trứng, buồng trứng vẫn lớn mạnh, phóng thích ấu trùng ở bụng xong, sau 2-5 ngày lại lột xác, giao vỹ và đẻ tiếp.
Theo Ling (1969), ấu trùng trải qua 8 giai đoạn, nhưng theo Uno và Soo (1969), thì ấu trùng trải qua 11 lần lột xác tương ứng mang 11 thời kỳ biến thái khác nhau trước lúc biến thái qua hậu ấu trùng (postlarvae). Mỗi thời kỳ mang hình thái và kích thước khác nhau. công đoạn một dài khoảng 2mm, công đoạn 11 dài khoảng 7mm.
quá trình hậu ấu trùng với hình dáng giống như tôm trưởng thành nhỏ, chuyển động cốt yếu bằng cách bò rộng rãi hơn là bơi lội tự do. khi chúng bơi thường theo kiểu mặt lưng ở phía trên và tiến về phía trước. Chúng với thể trốn tránh nhanh nhẹn bằng cách thức co những cơ bụng lại. các hậu ấu trùng sở hữu khả năng chịu được sự nao núng lớn của nồng độ muối.